Thứ năm, 21/02/2013, 12:33 GMT+7
Ứng dụng Toán – Biết rồi còn nói mãi!!!

1. Toán thật lãng phí?
2. Ứng dụng toán là dễ hay khó?

3. Những quan niệm còn “vênh” thực tế

4. Làm ứng dụng cần một “phong cách” riêng

5. Bài toán “đầu tiên” của người làm ứng dụng Toán
6. “Bao giờ cho đến công bằng?”
7. Cần một sự định hướng phù hợp của Nhà nước

Kết luận và đề xuất

1. Toán thật lãng phí?

Lâu nay không ít người cảm thấy thất vọng vì đã  “uổng công” học Toán. Nghe người ta nói thì  Toán học là “chìa khóa” cho mọi vấn đề, nhưng trên thực tế thì học sinh sau khi tốt nghiệp lại chẳng biết dùng kiến thức Toán đã học được trong nhà trường vào việc gì trong cuộc sống. Toán học đã bị biến thành một “công cụ đánh đố”, thay vì một bộ môn khoa học mang đầy chất thực tiễn. Đã có những ý kiến nói về sự lãng phí của nguồn nhân lực đang làm Toán hiện nay và không ít người cũng đã tưởng là thật…

Thực ra Toán học đứng ở ngay đằng sau những gì  đang diễn ra hàng ngày, ở chính những nơi được xem là “điểm chốt” của cuộc cách mạng công nghệ hiện nay. Sở dĩ ở nước ta mọi người không nhìn thấy là vì chúng ta chưa “vào cuộc”.

2. Ứng dụng toán là dễ hay khó?

Có một thời người ta tưởng rằng làm Toán ứng dụng dễ hơn làm Toán lý thuyết, vì làm lý  thuyết phải nghĩ ra cái mới còn làm ứng dụng chỉ cần biết “tiêu hóa” những điều  đã biết. Trên thực tế, những người đã có ít nhiều kinh nghiệm đều biết rằng đây là lĩnh vực “nói thì dễ mà làm thì khó”. Ở nước ta thì phần “nói” thì đã được triển khai từ lâu rồi, còn phần “làm" thì hầu như “còn nguyên”! Vì sao?

Toán ngày nay không “đi trực tiếp”  được vào thực tiễn

Đã qua rồi thời kỳ của những ứng dụng toán học tuần túy, theo kiểu chỉ cần biết đến toán là xong… Toán học ngày nay không mấy khi “đi thẳng” được vào thực tiễn, mà thường phải “ăn theo” một số công nghệ khác, cho nên người làm ứng dụng toán phải có khả năng tiếp cận các công nghệ mới (công nghệ phần mềm, công nghệ tính toán hiệu năng cao, điện tử, tự động hóa, số hóa,…). Thêm nữa, muốn ứng dụng toán học vào lĩnh vực nào thì phải có hiểu biết đủ tốt về lĩnh vực đó (xử lý hình ảnh, âm thanh, môi trường, sinh thái…) và cũng có nghĩa là phải học thêm một ngành mới ngoài toán. Đây chính là những điều mà phần lớn những người làm toán ngại nhất.

Từ  “Toán lý thuyết” đến “Toán ứng dụng được” là một quãng đường dài

Phần lớn những người làm toán lý thuyết chưa nhìn thấy những khó khăn đặc thù của công tác ứng dụng. Ví dụ, không ít người tưởng rằng đó chỉ đơn thuần là việc áp dụng những kết quả có sẵn trong lý thuyết vào việc giải quyết một vấn đề gì đó đặt ra trong thực tiễn, mà không biết rằng cái kết quả lý thuyết ấy chỉ là cái “phần nổi của tảng băng chìm”. Hãy lấy hệ mật mã RSA làm ví dụ. Không ít người cho rằng chỉ cần biết về tính “bất khả ngược” của phép nhân hai số nguyên tố lớn là đủ để thiết lập được hệ mã RSA. Tuy nhiên, nếu là người “trong nghề” làm mật mã thì biết rằng có bao nhiêu cạm bẫy giăng ra xung quanh hệ mã đó và chỉ cần một chút sơ suất nhỏ là đủ dẫn đến thiệt hại vô cùng lớn (Điều này đã được nhiều nhà mật mã trên thế giới nói đến). Đây là nguyên nhân khiến cho việc mã hóa theo sơ đồ lý thuyết chỉ mang tính hình thức, còn để triển khai vào thực tiễn người ta phải dày công nghiên cứu ra những lược đồ khác hẳn. Ta hiểu vì sao chính những nhà toán học được xem là “chuyên gia lão luyện” về Toán trong mật mã (như Koblitz, Menezes…) đã dùng thuật ngữ “lược đồ sách vở” (text book scheme) để chỉ những lược đồ mã hóa trong sách giáo khoa. Như vậy, ở đây ta cũng gặp tình huống giống như trong nhiều lĩnh vực khác, như Giải tích Fourier hay Đại số tuyến tính: Cơ sở lý thuyết của Giải tích Fourier có thể được trình bày trong khuôn khổ một chương của giáo trình Giải tích Toán học, nhưng để ứng dụng được thì người ta cần tới phép Biến đổi Fourier nhanh mà việc trình bày có thể cần cả một cuốn sách dày hơn cả giáo trình Giải tích Toán học. Tương tự như vậy, giáo trình Đại số tuyến tính (bậc đại học) có thể dễ dàng “nuốt trôi” trong một học kỳ, nhưng khi vào thực tế thì sẽ thấy rằng chỉ riêng một góc “phương trình tuyến tính cỡ lớn” cũng đủ để mà “vật lộn” cả năm trời không hết. Tóm lại, từ cái Toán “lý thuyết” trong sách giáo khoa đến cái Toán “dùng được” trong thực tiễn là còn cả một con đường dài.

Toán  ứng dụng mang tính “liên ngành”

Để làm lý thuyết, thông thường người ta chỉ cần biết về chuyên ngành hẹp mà mình nghiên cứu, còn để làm ứng dụng thì phải có tầm hiểu biết đủ sâu về chuyên ngành rộng. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong lĩnh vực mật mã. Ít khi người làm về lý thuyết số và hình học đại số  phải đọc để biết về hàm Bull, về xác suất thống kê… Nhưng muốn ứng dụng được các thành tựu của lý thuyết số và hình học đại số vào lý thuyết mật mã phi đối xứng thì không thể không biết các lĩnh vực này. Có thể nói rằng, cái khó trong việc nắm bắt cho đủ kiến thực để làm ứng dụng không hề thua kém cái khó trong việc tìm ra cái mới (có ý nghĩa thực sự) đối với người làm lý thuyết.

Làm ứng dụng toán cần có “vốn thực tiễn”

Muốn  ứng dụng Toán vào lĩnh vực nào thì phải có “vốn sống” về lĩnh vực đó (Tốn công vô kể!). Ví dụ:

Để làm các ứng dụng về Máy chấm thi trắc nghiệm phải “nghiền” cho hết các quy định của Bộ GD-DDT về công tác khảo thí và kiểm định chất lượng, không thua kém các chuyên viên về “khảo thí” của Bộ;

Để làm ra các sản phẩm về an toàn thông tin phải đọc hàng ngàn trang về các loại Tiêu chuẩn về mã hóa thông tin (CA, Tem thời gian, các giao thức mật mã, các kỹ thuật thám mã…) của cả ta lẫn Tây;

Để tiếp cận với các giải pháp bảo mật thông tin trong hệ thống Thu phí điện tử thì phải bỏ ra nhiều tháng trời để mà “đánh vật” với hàng ngàn trang tài liệu về các loại “chuẩn mực” trong hệ thống Giao thông thông minh (ITS).

3. Những quan niệm còn “vênh” thực tế

Triển khai ứng dụng có gì  là “mới”?

Trong mấy năm gần đây người ta mắc bệnh hô hào đi tìm “cái mới” (bằng mọi giá!), khiến cho “lực lượng chủ lực” của ta không quan tâm đúng mức đến vấn đề nghiên cứu triển khai (vì còn phải lo sao tìm cho ra “cái mới”, cho dù chả mấy khi biết dùng để làm gì). Điều này lý giải vì sao lực lượng của ta thì “ngày càng mạnh”, mà khả năng đóng góp cho cho cuộc sống hiện tại của đất nước vẫn cứ “ngày ngày khiêm tốn”!

Những người làm thực tiễn thì biết rằng công tác nghiên cứu triển khai luôn được xem là “vấn đề mở” (vì các giải pháp triển khai cụ thể không mấy khi được công bố). Cho nên, bản thân khái niệm “nghiên cứu triển khai” tự nó đã bao hàm tính “mới”, vì chẳng có hai phương án triển khai nào giống nhau (không nên lẫn lộn giữa triển khai và sao chép!). Điều này thấy rõ không chỉ qua việc làm tàu bay, tên lửa của Nga, Mỹ, Trung Quốc,… mà ngay cả trong việc canh tác của bác nông dân, khi mỗi năm lại phải đương đầu với một hoàn cảnh éo le mới. Tiếc thay, tính “mới” của công tác triển khai ở ta vẫn chưa được đánh giá ở mức xứng tầm. Cho nên, lực lượng chủ lực của ta mới chỉ là “lực lượng sản xuất” trên giấy!

Ai làm lý thuyết? Ai làm ứng dụng?

Ở bên Tây, một học sinh sau khi tốt nghiệp đại học thì thường nghĩ ngay đến việc phải kiếm một việc làm, còn ai chưa kiếm được việc thì tính chuyện đi học thêm một ít nữa. Ở nước ta thì ngược lại, một học sinh sau khi tốt nghiệp thường lo ngay chuyên học tiếp lên nữa, còn ai không có điều kiện học tiếp lên nữa thì mới lo kiếm việc làm. Thực tế cho thấy, những thanh niên bên Tây không hề bị “lùn” kiến thức nếu như họ đi làm ngay sau khi tốt nghiệp, mà ngược lại công việc sẽ giúp cho họ có điều kiện mở rộng hơn tầm hiểu biết của mình. Trong khi đó, ở nước ta những người có điều kiện học lên cao hơn (sau đại học) cũng thường là “lóng ngóng” hơn khi tiếp cận với công việc trong thực tế. Điều khôi hài là hiện nay (ở nước ta) những người “học nhiều mà ngọng việc” lại luôn được đánh giá cao hơn những người ‘học ít nhưng thạo việc”, chỉ vì họ có bằng cấp cao hơn. Điều nghịch lý này rất giống với những gì đang xảy ra trong “làng Toán” nước nhà, với quan niệm cho rằng một khi không thể làm toán lý thuyết thì nên chuyển sang làm ứng dụng. Những phân tích ở trên cho thấy điều này chỉ là “ảo tưởng”. Một cách nghĩ “thực tế” thì có lẽ phải là thế này: Nếu như ai thấy ngại làm ứng dụng Toán thì hãy đi làm Toán lý thuyết.

Làm  ứng dụng Toán sẽ phải chấp nhận sự thua thiệt về nhiều mặt, kể cả tiền tài lẫn danh vị. Một cộng sự của tôi vì mải mê với công việc nên không có lúc nào để mà hoàn tất các thủ tục làm một ông Tiến sĩ. Tôi dám chắc rằng về nghiệp vụ chuyên môn anh ta hơn hẳn các ông Tiến sĩ, nhưng tôi không thể bổ nhiệm anh ta làm Trưởng phòng nghiên cứu triển khai (chỉ vì anh ta chưa có bằng Tiến sĩ!).

4. Làm ứng dụng cần một  “phong cách” riêng

Có  nhất thiết phải “hướng ngoại”  một cách toàn diện

Vì  bản chất của Toán học là “không biên giới”, cho nên những người làm Toán lý thuyết ở ta xem việc “hướng ngoại toàn diện” là điều hiển nhiên. Khỏi phải bàn về tác dụng tích cực của trào lưu này đối với nền toán học nước ta trong những năm vừa qua. Với người làm ứng dụng thì việc “hướng ngoại” để học theo cũng là việc không có gì lạ. Tuy nhiên, điều đáng nói là không ít người (thuộc lớp “cây đa cây đề” trong làng Toán) lại có cái ảo tưởng rằng chỉ cần sang Tây mà học làm ứng dụng là xong, và vì thế chỉ lo “tâm huyết” với cái việc tìm cách cho người sang Tây học, mà xem thường công tác đào tạo, huấn luyện ở trong nước. Thực tế cho đến nay, đã qua hơn chục năm có lẻ, những người đi theo trào lưu “hướng ngoại” học làm ứng dụng thì hoặc là ở lại làm việc cho Tây, hoặc là về nước “làm ứng dụng một cách lý thuyết”, tức là vẫn “học, học nữa, học mãi...” mà chưa thấy làm. Thực ra, với người làm ứng dụng thì việc “học để biết” mới chỉ là một phần nhỏ, còn yếu tố quyết định là phải khả năng “nhúng mình” vào thực tế. Mà thực tế của Tây thường chẳng giống ở ta!

Những “hạt sạn” trong các công trình ứng dụng

Tình trạng phổ biến hiện nay là bài vở của những người làm ứng dụng thường không tránh được những “hạt sạn”, khiến cho chúng không được “trơn tru” như các công trình lý thuyết thuần túy. Những người làm Toán già dặn vốn thích sự “hoàn mỹ” và thường cảm thấy gai mắt khi bắt gặp những lỗi này. Nhưng xét cho kỹ thì thấy rằng đây một “đặc thù nghề nghiệp”, khó tránh khỏi ngay cả với những bậc thiên tài (hãy nhớ lại Newton đã từng bị Berkely chỉ trích như thế nào về tính thiếu “chặt chẽ Toán học” khi cho ra khái niệm “vô cùng bé”, còn Bernoullis J. đã phải tốn bao công sức để hiểu và trình bày lại các ý tưởng của Leibnitz về phép tính tích phân). Nói như vậy không có nghĩa rằng người làm ứng dụng không quan tâm đến tính chỉnh chu, chặt chẽ của một công trình khoa học, mà chỉ có nghĩa rằng đây là một nét “đặc thù nghệ nghiệp” cần được hoàn thiện về lâu dài. Thiết nghĩ, một người làm toán lý thuyết có kinh nghiệm thì không nên tìm cách “bắt bẻ” những sai sót nho nhỏ này, mà nên kiên nhẫn để hiểu ra “cái đúng về bản chất” đứng đằng sau cái “sai sót về hình thức trình bày” và giúp đỡ để làm cho nó trở nên sáng tỏ (như Berkely và Bernoullis đã từng làm đối với Newton và Leibnitz).

Những “bất đồng ngôn ngữ” giữa  ứng dụng và lý thuyết

Những người làm lý thuyết luôn đề cao sự “trong sáng” và “nhất quán” của các khái niệm. Đấy là một điều hay. Nhưng một khi “tuyệt đối hóa” chúng một cách thái quá, đến mức muốn áp đặt người khác cũng phải hiểu theo cách của mình thì lại là điều không cần thiết. Xin đơn cử một vài ví dụ đã xảy ra trong thực tế.

Người làm thực tế vẫn thường dùng thuật ngữ “một chiều” để chỉ những “mô hình” diễn ra trong không gian (hay mặt phẳng) nhưng chỉ biến thiên theo một tọa độ (theo các hướng còn lại là không thay đổi). Nhưng người làm lý thuyết thì khi nghe tới chữ “một chiều” thì đã vội nghĩ ngay đến cái đường thẳng thực, và không chịu nghe tiếp những gì không đi theo quan niệm này.

Cùng nghiên cứu về chuyển động của chất lỏng, nhưng người làm cơ học (hay là toán ứng dụng) thì xem những điểm xoáy giữa dòng nước là “điểm trong” (vì nó ở bên trong lòng chất lỏng theo ngôn ngữ đời thường), còn người làm toán lý thuyết thì xem là “điểm biên” (vì tại đó hàm không xác định, cho nên nó phải là điểm biên của tập xác đinh, theo nghĩa tô pô). Sự bất đồng tưởng như “cỏn con” này cũng cần đến mấy buổi thảo luận mới có thể “hòa giải” được.

Không ít người làm lý thuyết xem các “định lý”, “mệnh đề”,… như là những linh hồn của một công trình Toán học. Bởi vậy, không ít “giáo sư có hạng” khi ngó vào một công trình làm ứng dụng, nơi mà kết quả thể hiện thường không gói gọn trong các định lý, mệnh đề,… mà là những giải pháp, thuật toán,... thì họ “phán xét” rằng là “chẳng có kết quả gì”. Cũng may mà cụ Euclid không sinh ra ở thời nay, nếu không thì cái thuật toán thuộc hàng “hay nhất mọi thời đại” của cụ về tìm ước chung lớn nhất sẽ bị các giáo sư này xem chẳng ra cái gì.

Sự  “bất đồng ngôn ngữ” là một điều hết sức bình thường trong cuộc sống, và cần giải quyết bằng việc tìm hiểu cho “ra nghĩa”, và sau đó là sự tôn trọng “ngôn từ” của nhau. Không nên áp đặt, và càng không nên “chụp” cho cái mũ “sai về cơ bản!”, nhất là đối với những nghiên cứu sinh còn “ngây thơ” trong nghề nghiệp, để tránh làm “chột” những cái “mầm thực tiễn” đang hình thành le lói.

5. Bài toán “đầu tiên” của người làm ứng dụng Toán

Có  một điều khác biệt cơ bản giữa người làm Toán lý thuyết và người làm Toán ứng dụng nước ta hiện nay là ở chỗ tìm kiếm nguồn kinh phí cho sự tồn tại của mình. Người làm Toán lý thuyết thì tìm kiếm các nguồn tài trợ ở nước ngoài, còn người làm Toán ứng dụng thì tìm ở trong thực tiễn công việc ngay trong nước. Với người chuyên tâm làm lý thuyết thì người ta có thể khuyên rằng, trong hoàn cảnh hiện nay, cứ chịu khó học hành và nghiên cứu trong vài năm, làm ra vài ba bài báo thì cầm chắc sẽ kiếm được chuyến đi làm việc ở nước ngoài, và sẽ dành được một ít tiền để tiếp tục làm việc. Với việc làm Toán ứng dụng thì không ít người sẽ tưởng rằng làm toán ứng dụng để ra tiền lo cho cuộc sống trước mắt. Nhưng thực tế lại không như vậy. Để trau dồi được vốn kiến thức “hành nghề” trong lĩnh vực Toán ứng dụng thì một cán bộ trẻ phải tốn khoảng 4-5 năm lao động miệt mài. Trong khoảng thời gian ấy họ lấy tiền đâu mà sống? Với những người may mắn được làm công chức nhà nước thì lương của họ cũng chỉ đủ trang trải cho khoảng 1/3 nhu cầu tối thiểu tiêu dùng hàng ngày, liệu họ có đủ kiên tâm nhịn đói để mà trau dồi cho đủ kiến thức?

Trong hoàn cảnh hiện nay, một người biết làm toán ở mức khả dĩ nếu muốn có cái để “ăn ngay” thì nên đi làm Toán lý thuyết. Nhìn ra thế giới, có khá nhiều nước mà nền Toán học lý thuyết vượt xa chúng ta, nhưng mãi vẫn không phát triển được ứng dụng Toán học sao cho xứng tầm, chỉ vì nó không mang lại lợi nhuận tức thì. Chỉ cần xem người Nga, người Mỹ,… đầu tư nhân lực và tiền của cho lĩnh vực này như thế nào thì biết ngay rằng làm Toán ứng dụng là không thể tính đến chuyện “ăn sổi”.

Tóm lại, làm Toán ứng dụng cũng là một cái “nghiệp”, những ai đã vướng vào thì gắng mà làm vậy. Đấy là những người không hy vọng kiếm ra tiền từ việc làm Toán ứng dụng, mà đang nuôi hy vọng kiếm được tiền để mà làm Toán ứng dụng! Như vậy, bài toán đầu tiên của người làm ứng dụng Toán vẫn là “tiền đâu?”, tức là phải tìm ra nguồn kinh phí để mà làm Toán ứng dụng.

6. “Bao giờ cho đến công bằng?”

Thoạt  đầu người ta tưởng rằng cái khó nhất đối với làm ứng dụng là ở chỗ kinh tế  thị trường nghiệt ngã đòi hỏi các sản phẩm  ứng dụng phải “chạy thực”, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt rồi mới có tiền. Khi “nhúng” vào thực tế thì mới biết rằng đây không phải là vấn đề khó nhất. Nên nhớ rằng với “thị trường có định hướng” thì còn một vấn đề nữa cần phải giải quyết là phải xác định rõ mục tiêu mang lại hiệu quả cho đối tượng nào? (chứ không chỉ đơn thuần là hiệu quả về phương diện sản xuất nói chung, kiểu như năng suất tăng, chi phí thấp, giá thành sản phẩm hạ,v.v…). Chả thế mà có những sản phẩm có thể thay thế được hàng nhập ngoại, với tính năng tốt hơn và giá thành thấp hơn (nhiều lần), nhưng vẫn không sao “chen” được vào thực tiễn…

Cái khó khăn lớn nhất của những người ôm mộng làm ra những sản phẩm “thay thế hạng nhập ngoại”  không phải là việc làm các sản phẩm đó, mà  là phải “vật nhau” với các hãng nước ngoài đang kinh doanh những mặt hàng đó. Đây là  một cuộc chiến không cân sức, đặc biệt là với những người làm toán, khi một bên là những chàng “châu chấu” vốn “èo ợt” về tiềm lực kinh tế, còn một bên là con “voi” về tiền bạc với các chiêu “vận động hành lang” rất “chuyên nghiệp”. Ấy là chưa nói đến những con “khủng long” đang nắm trong tay những khoản tiền cho vay ODA mà các quan chức tài chính nước nhà cũng phải “ngả mũ”.

Nói chung, những bài toán lớn thường liên quan đến những vấn đề mang tính “vĩ mô”, và lợi  ích mà nó mang lại là thường là cho cộng đồng, cho Nhà nước. Tiếc thay, khái niệm “lợi ích cộng đồng” hay “lợi ích Quốc gia” chẳng mấy khi được “interpreted” một cách đúng đắn trong các “hàm mục tiêu” của những bài toán thực tiễn. Bởi vậy mới hay phát sinh “nghịch lý”. Nổi bật là:
Sản phẩm ngoại: giá cao đến mấy vẫn được xem là sự “đương nhiên”!
Sản phẩm nội: giá thấp  đến mấy vẫn bị xem là  cao (vì bị “căn” theo mức lương chết đói).
Giải pháp thiết lập máy chấm thi trắc nghiệm bằng PC và  máy quét.

Công nghệ mới + Giá thành hạ“THUA”Công nghệ lỗi thời + Giá thành cao
Giải pháp điều hành Hệ  thống Giao thông thông minh và Thu phí điện tử (ETC) .

7. Cần một sự định hướng phù hợp của Nhà nước

Phát triển “cân đối” giữa lý thuyết và ứng dụng.

Không nên nghĩ đến việc vận động những người đang làm Toán lý thuyết hôm nay quay sang với ứng dụng.
Ai cũng biết rằng muốn có ứng dụng thì phải có lý thuyết, vì lý thuyết có thể xem như động lực của ứng dụng. Điều mong đợi của chúng ta là lý thuyết và ứng dụng cần phải đi gần nhau để mà bổ trợ cho nhau, như hai chân cùng bước trên con đường dài.
Một khi lý thuyết đã tiến lên một bước thì hãy làm trụ cho ứng dụng dựa vào để làm bước tiếp theo. Đến lượt mình, Toán ứng dụng sẽ lại góp phần tạo đà cho bước tiến mới của Toán lý thuyết, như ta đã nhiều lần chứng kiến trong lịch sử phát triển của Toán học. Để cho lực lượng làm ứng dụng tiến kịp lực lượng làm lý thuyết hiện nay cần có một cơ chế và chính sách thích hợp.

Phát triển ứng dụng có  trọng tâm

Trong một thời gian tương đối ngắn, muốn cho lực lượng ứng dụng Toán ở nước ta có thể tiến kịp đội ngũ Toán lý thuyết ngày hôm nay thì không có cách nào khác là phải có được sự quan tâm thực sự của Nhà nước, thông qua các chính sách và cơ chế phù hợp.
Trong khi chưa thể có được giải pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng một cách toàn diện, nên chăng nghĩ đến một giải pháp cục bộ đối với một số lĩnh vực đặc biệt, nơi mà nhu cầu thực tiễn và tiềm lực cán bộ của ta đã khá rõ ràng. Nếu có những đề tài trọng điểm về Ứng dụng Toán thu hút được sự quan tâm của các nhà toán học hàng đầu trong nước về lĩnh vực này, để họ không phải lo đi tìm các nguồn tài trợ đâu đó bên ngoài nước, thì chắc chắn chúng ta sẽ có những bước tiến ngoạn mục với các ứng dụng thiết thực vào thực tiễn của đất nước.
Một "bài học cũ" lại vừa mới diễn ra hôm nay với "bài toán vân tay". Nếu như cách đây vài năm chúng ta chịu đầu tư cho việc phát triển công nghệ này một cách nghiêm túc (với chi phí chắc chỉ khoảng vài trăm ngàn đô la Mỹ) thì bây giờ, khi tiến hành làm chứng minh thư mới, chúng ta đã không phải chịu cảnh dương mắt ngồi nhìn các doanh nghiệp trong nước “chạy đôn chạy đáo” đi tìm các giải pháp từ nước ngoài, với chi phí lên tới nhiều triệu đô la Mỹ.

Cần một cơ chế đánh giá  phù hợp cho các công trình triển khai ứng dụng

Chính tiêu chí lấy “đầu bài đăng” để đánh giá kết quả hoạt động đã đem lại hậu quả tất yếu là những công trình “SPAM” thì ngày càng nhiều, mà người dám dấn thân vào ứng dụng thì ngày càng ít. Cái “thước đo hình thức” trong việc phong chức danh khoa học hiện nay là không phù hợp với những người chuyên tâm làm ứng dụng, vì họ không “chạy theo bài báo” đăng trên tạp chí, mà “chạy theo sản phẩm” dùng được vào thực tiễn. Bởi vậy, việc chấp nhận đi vào con đường triển khai ứng dụng cũng là đồng nghĩa với việc chấp nhận đứng ngoài sự vinh danh (hay công nhận) của Nhà nước.
Có  lẽ đã đến lúc phải nhận thấy rằng một công trình nghiên cứu triển khai mà được ứng dụng vào thực tiễn thì không thể bị đánh giá thấp hơn một công trình lý thuyết đăng trên báo. Hơn thế,  một giải pháp đơn giản về Toán học mà mang lại hiệu quả lớn trong thực tế thì cũng cần được đánh giá như việc giải quyết một vấn đề khó trong lý thuyết.
Tóm lại, để có thể khuyến khích người ta mạnh dạn dấn thân vào con đường nghiên cứu triển khai ứng dụng, cần có một “thước đo” riêng cho họ, mà không nên áp dụng một cách khiên cưỡng các chuẩn mực của những người làm lý thuyết.

Cần có giải pháp thực tế trong việc xây dựng lực lượng

Sự  “vô dụng” của Toán (ở ta) hôm nay phản ánh một sự thật là chúng ta chưa biết cách đem nó vào cuộc sống. Có lẽ còn xa mới đến ngày các trường ở ta (cả phổ thông lẫn đại học) mới biết cách dạy Toán theo phong cách gắn Toán học với thực tiễn. Một giải pháp khắc phục tình trạng này là đào tạo bổ sung các kiến thức về ứng dụng thực tiễn cho các cử nhân Toán. Hãy cứ để cho các sinh viên yêu Toán đến với nghề làm Toán ngay sau khi tốt nghiệp (họ sẽ đến với các viện nghiên cứu, các trường đại học,…).
Tuy nhiên, con số này chẳng đáng là bao, số còn lại đang vất vưởng với các ngành nghề “tay trái”, hoặc thậm tệ hơn là chẳng biết làm gì. Đây chính là đối tượng mà Nhà nước cần quan tâm để tận dụng cái tiềm năng kiến thức Toán học của họ.
Trong khi mải hô hào, khuyến khích dạy nghề cho những người “thất học” và luôn mồm kêu ca về trình độ lao động thấp, thì người ta đã quên bẵng đi một lực lượng sản xuất đầy tiềm năng sinh lợi lớn, đó là những sinh viên ngành Toán chưa có việc làm. Như đã nói, Toán không thể trực tiếp đi thẳng vào thực tiễn, cho nên cần phải tạo cho họ một cơ hội tiếp cận với thực tiễn qua một năm học nghề (hay nói cho ‘hoa mỹ” hơn thì gọi là học “văn bằng hai”). Tại đây họ sẽ được đào tạo về Toán trong Kinh tế, Tài chính, Công ghiệp, Xử lý thông tin,v.v... nơi đang “khát” nguồn nhân lực như họ.

Mở  đường vào thực tiễn bằng việc trả lại công bằng cho “sản phẩm nội”

Ngoài việc hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng, Nhà  nước còn cần phải quan tâm đến việc “mở  đường” cho các ứng dụng này đến với thực tiễn.
Như  đã thấy, khó khăn lớn nhất hiện nay không xuất phát từ chỗ lực lượng ta còn yếu, hay tiền ta không đủ cho đầu tư ban đầu, mà là ở chỗ không có được sự bảo đảm để cho việc đầu tư này không bị “nghiền nát” trong bối cảnh một nền kinh tế vẫn còn những mảng “không chịu tuân theo quy luật thị trường” (như đã nêu ở phần trên), đặc biệt là trước sự cạnh tranh không công bằng với các công ty nước ngoài với bộ máy “vận động hành lang” hùng hậu cùng các nguồn tài chính khổng lồ với các “điều kiện cho vay” mang tính áp đặt.

Vì  vậy, người làm Toán ứng dụng hôm nay cần trước hết là sự  công bằng!

Kết luận và đề xuất

Việc nêu ra những nét đặc thù của công tác nghiên cứu triển khai ứng dụng không nhằm đối lập toán ứng dụng và toán lý thuyết, vì ranh giới giữa chúng quả thực rất mong manh. Chỉ trong sự thống nhất của chúng thì chúng ta mới hy vọng có được những ứng dụng với hàm lượng toán học cao hơn, và mặt khác làm cho các ứng dụng toán trở nên phong phú hơn. Điều cần thiết trong lúc này là những người làm toán lý thuyết cần nhận rõ nét đặc thù của công tác triển khai ứng dụng để có thể hỗ trợ và giúp đỡ cho nó tiến kịp với trình độ chung của Toán học nước nhà.

Do lực lượng của chúng ta còn mỏng, công việc triển khai ứng dụng sắp tới cần tránh dàn trải và nên tập trung vào một số vấn đề trọng điểm của tính toán khoa học (như dự báo thiên tai khí tượng, nghiên cứu hiện tượng biến đổi khí hậu,...), tính toán khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên (nước, dầu hoả, khí đốt, vv...), tính toán lan truyền ô nhiễm (dầu tràn, chất thải công nghiệp, rò rỉ hạt nhân,vv...), tính toán mô phỏng vật liệu mới và hoàn thiện những vật liệu đã biết, tính toán dự báo nhu cầu thị trường cho các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nước nhà (trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,vv...), nghiên cứu các giải pháp xử lý thông tin, các hệ thống nhúng, các hệ thống điều khiển, và đưa ra các giải pháp công nghệ mới thay thế hàng nhập ngoại, nhằm hạn chế nhập siêu và đặc biệt là tránh nguy cơ trở thành “bãi thải” các công nghệ lỗi thời,...

Để làm được điều đó phải tổ chức ngay những seminar học thuật và phân công anh em, một mặt đọc tài liệu và thuyết trình những vấn đề liên quan được thế giới quan tâm và nghiên cứu, và mặt khác tiếp cận với thực tiễn trong nước để nắm bắt nhu cầu và môi trường triển khai của nước mình. Người làm ứng dụng phải được trang bị nhiều kiến thức hơn để giải những bài toán mới mà xã hội cần, chứ không phải đi tìm những bài toán giải được bằng những kiến thức đã có của mình.
———————————————————
PHẠM HUY ĐIỂN
Viện Khoa học và Công nghệ  Việt Nam
PHẠM KỲ ANH
Đại học Quốc gia Hà Nội

In bài | Chia sẻ   
Các tin khác
 
THÔNG BÁO


CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Số lượt truy cập: 254860
Đang online: 3