Thứ ba, 07/06/2016, 09:13 GMT+7
Giới thiệu Tập chí Ứng dụng Toán học

TẠP CHÍ ỨNG DỤNG TOÁN HỌC

Journal of Mathematical Applications

I.  THÔNG TIN ĐẠI CƯƠNG

  • Tên tiếng Việt: Tạp chí Ứng dụng Toán học

  • Tên quốc tế:  Journal of Mathematical Applications

  • Cơ quan Chủ quản: Hội Toán học Việt Nam

  • Các cơ quan Trị sự: Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam; Trường Ðại học Thăng Long - Hà Nội

  • Trụ sở Tòa soạn: Phòng A205, Ðại học Thăng Long - Ðường Nghiêm Xuân Yêm, P. Ðại Kim, Q. Hoàng Mai, Hà Nội

  • Thông tin liên lạc: ÐT: 84-4-3568 0286;  FAX : 84-4-3557 5260;  E-mail : tapchi.udth@gmail.com

  • Website: http://www.vietsam.org.vn/tapchi/

  • Mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản ấn phẩm: ISSN 1859 – 4492

  • Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt và Tiếng Anh

  • Kỳ hạn xuất bản: 03 tháng/kỳ

  • Khuôn khổ: 18,5 cm x 26,5 cm

  • Số trang: 100 trang

  • Số bản: 500 bản/kỳ

  • Giấy phép hoạt động báo chí: Số 142/GP-BVHTT của Bộ Văn hóa – Thông tin, cấp ngày 28 tháng 4 năm 2003

  • Ngày thành lập: 30 tháng 4 năm 2003

  • Ngày bắt đầu hoạt động: 9 tháng 5 năm 2003

II.  NHU CẦU THỰC TẾ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TẠP CHÍ ỨNG DỤNG TOÁN HỌC

Vai trò của các tạp chí khoa học về Ứng dụng Toán học trong thực tiễn phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ… đã được khẳng định ở tất cả các nước tiên tiến trên thế giới. Hệ thống tạp chí của SIAM (Society of Industrial and Applied Mathematics – Hội Toán Công nghiệp và ứng dụng Mỹ) với trên 10 loại tạp chí khác nhau, trong đó Journal of Applied Mathematics đã trở thành phương tiện làm việc cần thiết cho tất cả những người làm Toán ứng dụng và ứng dụng Toán trên khắp thế giới. Cùng với các tạp chí này còn có nhiều tạp chí khác, lấy tính từ “ứng dụng” làm rõ nghĩa cho những công trình toán học mà nó đăng tải. Chẳng hạn như: Applied Mathematics and Optimization, Applied Mathematics Letters, Applied Numerical Mathematics, Journal of Computational and Applied Mathematics (Tây Âu và Mỹ) … Tại những nước có nền toán học phát triển mạnh và toàn diện, người ta còn xuất bản những tạp chí toán chuyên ngành đề cập cả hai lĩnh vực lý thuyết và ứng dụng như: Journal of Optimization Theory and Application (Mỹ), Theory of Probability and Application, Differential Equations and their Applications (Nga), Annali di Mathematica Pura ed Applicata… Cũng có những tạp chí mang tên một chuyên ngành toán mà bản thân nó đã mang tính ứng dụng, như: Mathematics of Operations Research, Journal of Global Optimization (Mỹ và Tây Âu), Journal of Computational Mathematics and Mathematical Physics (Nga), Kibernetika (Ucraina), Zeitschrift fur Angewandte Mathematik und Physik (Ðức), Kibernetika (Tiệp Khắc). Trong mô hình gọn nhẹ hơn, ở những nước có sự phát triển toán học tương tự như ở Việt Nam ta, có thể tìm thấy những tạp chí: Applicationes Mathematica (Ba Lan), Applications of Mathematics (Tiệp Khắc) … mà có thể dịch là “Các ứng dụng của toán học”, “Các ứng dụng có tính chất toán học” hay vắn tắt hơn: “Ứng dụng Toán học (ƯDTH)”.

Mặc dầu cho đến cuối thế kỷ trước ta chưa có một tạp chí nào thuộc loại trên, nhưng lịch sử phát triển của ƯDTH nước ta không chậm so với sự phát triển của toán học trong nước và khu vực. Dẫn chứng là: Ngay từ hồi KC chống Pháp, GS Trần Ðại Nghĩa đã cùng 3 cộng tác viên của mình sử dụng giải tích số (với phương tiện tính toán thô sơ bằng thước tính) để nghiên cứu chế tạo quả đạn lõm Bazoka đầu tiên, góp phần làm nên Bản hùng ca Sông Lô lẫy lừng. Tiếp theo, dân ta biết đến nền Toán học VN thông qua những ứng dụng “vang bóng một thời” của nó: Bắt đầu là các bài viết của GS Hoàng Tụy (trên báo Nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng) về vận trù học (Operations Research), gắn với những ứng dụng trong giao thông vận tải, nông nghiệp, pha cắt vật liệu tiết kiệm trong công nghiệp (1959-1962)…

Trong chiến tranh chống Mỹ, các nghiên cứu ứng dụng về: Sơ đồ pert trong việc đảm bảo GTVT, quy hoạch động và quy hoạch tuyến tính trong vận tải vào khu 4 và tiếp theo trên “Ðường mòn HCM”, phương pháp toán lý trong NC nổ mìn định hướng; cùng với những bài toán này, các “nghiên cứu thầm lặng” trong thông tin mật mã, trong kỹ thuật quân sự…đều xem là những bí mật quốc phòng và không bao giờ được công bố. Cũng có một số công trình ƯDTH trong thời gian này là ngoại lệ, như: Bài toán thấm dừng tuyến tính được công bố toàn văn (1962) trên Tập san Toán-Lý, Phương pháp phân tích tương quan trong pha trộn sợi bông ở Nhà máy dệt Nam định và trong việc xác định số đo tiêu chuẩn được công bố kết quả (1961-1963) qua những bộ quần áo may sẵn vừa vặn lại tiết kiệm vải của một thời “ bao cấp”; Phương pháp hồi quy để hiệu chỉnh bảng bắn pháo 130 mm được công bố kết quả (1964) trên những phương tiện thông tin đại chúng, ngay sau khi bão lửa mà bộ đội ta đã trút lên đầu quân thù ở Cồn Tiêu – Dốc Miếu…

Sau ngày thống nhất đất nước, dưới hình thức hợp đồng hợp tác nghiên cứu về ƯDTH giữa các nhà toán học với chuyên gia Khoa học, kỹ thuật và quản lý các ngành, nhiều bài toán mới đã xuất hiện, như: Thiết kế tối ưu các thí nghiệm hồi quy trong việc bổ sung hệ trạm quan sát địa chấn trên lãnh thổ VN (1976-1978), Lý thuyết xếp hàng trong điều động xe rỗng trên 5 tuyến đường sắt Miền Bắc (1978-1979), Giải tích số trong NC sóng biển dâng (1987-1988), Mô hình chuỗi thời gian trong dự báo và kiểm soát lũ (1990-1997) … Ðáng chú ý trong số này là những mô hình liên quan đến các công trình và chương trình NC trọng điểm về KH và KT của đất nước trong từng thời gian, như: Ðiều khiển ngẫu nhiên trong khai thác tối ưu tổ hợp các nhà máy thủy-nhiệt điện của HTÐ Miền Bắc (1983-1984), Ðiều khiển tối ưu trong vận hành hợp lý NMTÐ Hòa Bình (1984-1987), Mô phỏng Monte Carlo trong tính trữ lượng dầu khí (1984-1985), Lý thuyết độ tin cậy trong NC trữ lượng thủy điện các con sông lớn liên quan đến thiết kế đường dây 500 KV Bắc-Nam (1987-1989), Lý thuyết đổi mới trong hoạch định chính sách vay-thanh toán nợ QT (1986-1988) và trong “Phủ xanh đất trống - đồi núi trọc” (1994-1996), Lý thuyết thấm và ứng dụng trong dầu khí ở Vietsopetro, Phương pháp toán lý trong phân tích số liệu và xác định độ thẩm thấu dầu của mỏ Bạch Hổ (1995-1998)…

Trong số trên có cụm công trình dầu khí sau này nhận giải thưởng HCM, như: Lý thuyết tin lượng và Entropi trong phân tích điều khiển quá trình khai thác, Hình học Fractal mô phỏng quá trình thủy động lực học trong đường ống ngầm ngoài khơi (1996-1999)… Cũng có cụm công trình toán học sau này tham gia vào việc giám định-phản biện XH ở Quốc Hội về Lựa chọn quy mô tối ưu cho CTTÐ Sơn La, như: Ðiều khiển ngẫu nhiên tổng hợp trong tương lai vận hành HTTÐ 3-bậc thang trên sông Ðà, Lý thuyết quá trình điểm và xấp xỷ ngẫu nhiên trong việc dự báo động đất và độ rủi ro lũ lụt-động đất cho CTTÐ Sơn La (1998-1999)…

Ðáng tiếc rằng những mô hình ƯDTH mới trên đây chỉ được công bố kết quả, khi nghiệm thu hợp đồng hợp tác nghiên cứu với bên A. Toàn văn phần “đảm bảo toán học” cho những kết quả này hoặc là được bên A cất giữ hoặc là do lúc đó chưa có một chuyên san về ƯDTH nên chưa được công bố kịp thời. Trong tình trạng trên, Sêmina liên ngành và liên cơ quan (ÐH Tổng hợp, ÐH Bách khoa, ÐH Xây dựng, ÐH Kinh tế QD, Viện Công nghệ TT, Viện Toán…) về Các phương pháp ngẫu nhiên & Giải tích số, đã đứng ra mở cuộc vận động thành lập Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam và Tạp chí Ứng dụng Toán học (1995-1999).

Ngày 4/2/1999 BCH Hội Toán học VN đã phối hợp với Semina nói trên và Khoa Toán ứng dụng ÐH Bách khoa HN để tổ chức hội thảo chuyên đề về Ứng dụng Toán học. Xuất phát từ kiến nghị của hội thảo chuyên đề này và từ yêu cầu tập hợp lực lượng các người làm Ứng dụng Toán học, tạo nên một sức mạnh tổng hợp để có thể tiếp cận những vấn đề lớn ở tầm cỡ quốc gia và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, Ðại hội Ðại biểu TQ lần IV (30/5/1999) của Hội Toán học VN đã đề ra 3 định hướng liên quan mật thiết đến việc đẩy mạnh công tác Ứng dụng Toán học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đó là:

  1. Thành lập Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam.

  2. Tổ chức Hội nghị Ứng dụng Toán học Toàn quốc lần thứ I.

  3. Xuất bản Tạp chí Ứng dụng Toán học.

Hai nghị quyết trên của Ðại hội đã được hoàn thành trước thềm Thế kỷ 21: Ngày kết thúc Hội nghị Ứng dụng Toán học TQ lần I (23/12/1999) cũng là ngày thành lập Hội Ứng dụng Toán học VN.

Với sự hợp tác (đồng chủ trì) của Bộ Công nghiệp, Hội nghị Ứng dụng Toán học TQ lần I đã thu hút trên 400 đại biểu đến từ 3 miền của đất nước với trên 170 báo cáo khoa học. Sự thành công của Hội nghị này là sự thành công của phương châm: Lấy ứng dụng làm mục tiêu, toán học làm công cụ, trong đó “Mục tiêu ứng dụng” được hiểu là các vấn đề khoa học kỹ thuật quan trọng, các chương trình, dự án có tính chất thời sự của đất nước; còn “Công cụ toán học” được hiểu là các thành tựu toán học, những nghiên cứu cơ bản phục vụ ứng dụng mới và hiệu quả nhất. Tham dự Hội nghị này không chỉ là các nhà toán học quan tâm đến ứng dụng mà có cả những chuyên gia các ngành khoa học, kỹ thuật sử dụng công cụ toán học ở mức độ sâu sắc và hiện đại (một nửa số báo cáo mời toàn thể của Hội nghị đã chứng tỏ điều này).

Nhiều chuyên gia nói trên đã được mời vào Ban biên tập (hoặc cùng các nhà toán học làm phản biện cho những công trình toán học có địa chỉ ứng dụng triển khai) của Kỷ yếu Hội nghị ƯDTH Toàn quốc lần I. Kỷ yếu này (xuất bản năm 2001 tại NXB Ðại học QG Hà Nội) là 1 tuyển tập đồ sộ các công trình NC về ƯDTH (gồm 3 tập, 970 trang) với 105 bài báo khoa học, được biên tập và phản biện cẩn thận. Thành phần, phương pháp làm việc của Ban biên tập Kỷ yếu được xem là sự tập dượt cho cơ cấu và phương thức hoạt động của Hội đồng Biên tập Tạp chí ƯDTH trong tương lai. Tính liên ngành và đa dạng của các mô hình ƯDTH hiện đại được thể hiện qua nội dung của 3 tập Kỷ yếu nói trên, với sự phân chia thành 8 chuyên mục: Toán học trong Công nghiệp và Giao thông VT, Toán học trong Quản lý, Toán học trong Công nghệ TT, Các phương pháp Giải tích và Tối ưu hóa, Toán học trong các KH về Trái đất, Toán học trong Nông – Sinh – Y và Môi trường, Các phương pháp Vật lý – Toán, Một số vấn đề trong Tính toán Khoa học. Ðây cũng được xem là mẫu hình về đối tượng và nội dung các công trình NC mà Tạp chí ƯDTH sẽ đăng tải sau khi thành lập. Bởi vì, có không ít trong số các bài báo nói trên đã khái quát hóa các kết quả có địa chỉ ứng dụng cụ thể thành những mô hình toán học mới (có thể ứng dụng vào những lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác), hoặc đề ra những phương pháp mới để giải quyết bài toán cũ hoặc mới.

Ðiều đáng chú ý là: Sau Hội nghị ƯDTH Toàn quốc lần I, thể loại những công trình khoa học kiểu trên xuất hiện ngày càng nhiều và lần đầu tiên đã hình thành trong một Hội nghị Toán học Toàn quốc (tại Huế 9/2002) Tiểu ban ƯDTH, với số lượng và nội dung phong phú những báo cáo về ƯDTH gắn với các địa chỉ ứng dụng cụ thể hoặc về toán có định hướng ứng dụng. Ðịnh hướng này cũng đã diễn ra trong các Hội nghị KH quốc tế tổ chức ở VN trong những năm sau đó, như: High Perfomance Scientific Computing (3/2000), Finite or Infinite Dimensional Complex Analysis and Applications (8/2001), Diferential Equations-Aproximations and Applications (12/2001), Abstrac and Applied Analysis (10/2002) …

Về mặt xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong những năm này đặt ra yêu cầu cấp thiết về thiết kế khả thi công trình trọng điểm Thủy điện Sơn La. Nghị quyết Quốc Hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 (5/2001) đã yêu cầu có sự tham gia của các nhà Vật lý, Sinh học – Môi trường và Toán học vào việc trên. Ðáp ứng yêu cầu này, Liên hiệp các Hội KH & KT Việt Nam đã huy động các Hội thành viên tham gia các đề tài giám định và phản biện XH về việc lựa chọn quy mô cho CTTÐ Sơn La. Nòng cốt trong việc này về mặt Toán học phải kể đến đề tài Giảm thiểu độ rủi ro lũ lụt- động đất cho CTTÐ Sơn La của Hội ƯDTH Việt Nam, khi hội thành viên này vừa tròn 2 tuổi đời.

Những nhu cầu nội tại trên đây trong phát triển các ƯDTH đã đòi hỏi cấp thiết sự ra đời của một Tạp chí Khoa học về ƯDTH (mang tầm cỡ chuyên ngành QG), để đăng tải những công trình NC có hàm lượng cả về toán học lẫn ứng dụng ngày càng nâng cao. Về mặt hội nhập quốc tế, một tạp chí như vậy càng trở nên cần thiết trong tình hình ñy hội quốc tế về Toán công nghiệp và øng dụng (Internatio-nal Coucil for Industrial and Applied Mathematics) đã kết nạp Hội ƯDTH Việt Nam (VSAM) làm tổ chức thành viên thứ 17, sau 4 tổ chức thành viên ở châu ¸ là: SCIAM (Trung quốc), ISIAM (Ấn độ), JSIAM (Nhật bản), KSIAM (Hàn quốc).

Ðáp ứng các nhu cầu trên đây, ngày 28/4/2003 Bộ Văn hóa – Thông tin đã cấp Giấy phép hoạt động báo chí (số 142/GP-VHTT) cho Tạp chí Ứng dụng Toán học của Hội Toán học Việt Nam. Ngày 30/4/2003, Chủ tịch Hội Toán học VN đã ký quyết định (số 120/QÐ 2003-HTH) về việc thành lập Tạp chí Ứng dụng Toán học, như một Tạp chí KH chuyên ngành quốc gia.

Ngày 9/5/2003 tại Trụ sở (P.104/D3, ÐH Bách khoa HN), Tạp chí Ứng dụng Toán học (Vietnam Journal of Mathematical Applications) đã được thành lập. Ban lãnh đạo, Hội đồng Biên tập, Ban Trị sự của Tạp chí cũng đã chính thức nhận nhiệm vụ, với sự chứng kiến của đại diện Liên hiệp các Hội KH & KT Việt Nam, ñy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc Hội, Vụ Báo chí - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Công nghiệp, Hội đồng KHTN – Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Toán học, Viện Công nghệ Thông tin (Trung tâm KHTN và Công nghệ QG) cùng với đại diện các khoa Toán-Cơ-Tin học, Toán øng dụng, Công nghệ TT, Toán Kinh tế của các trường ÐH Khoa học TN (ÐHQG Hà Nội), ÐH Bách khoa, ÐH Xây dựng, ÐH Thủy lợi, ÐH Kinh tế Quốc dân…

Kèm theo hồ sơ đăng ký và các quyết định thành lập nói trên là các văn bản dưới đây về: Tôn chỉ mục đích, phương thức và quy chế hoạt động của Tạp chí.

III.  TÔN CHỈ MỤC ĐICH VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TẠP CHÍ

1.   Tôn chỉ mục đích:

  • Công bố các công trình nghiên cứu khoa học về những ứng dụng của toán học trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý khác nhau.

  • Ðăng tải những công trình nghiên cứu về ƯDTH vào lĩnh vực phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

  • Thông tin về những hoạt động ƯDTH trong và ngoài nước.

2.   Ðối tượng phục vụ, phạm vi và phương thức phát hành:

  • Các người là toán quan tâm đến ứng dụng và chuyên gia KH KT các ngành quan tâm đến việc sử dụng công cụ toán học.

  • Phát hành trong cả nước (qua Bưu điện hoặc Tự phát hành); In ấn tại HN.

  • Nộp lưu lưu chiểu theo như quy định của thể lệ lưu chiểu hiện hành.

3.   Kinh phí hoạt động:

  • Nguồn kinh phí thường xuyên: từ các cơ quan trị sự, với nòng cốt là Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam.

  • Huy động các nguồn kinh phí hỗ trợ: từ các chương trình, dự án của nhà nước, Bộ công nghiệp, Tập đoàn Dầu khí VN, các đơn vị SX, cơ quan Khoa học, Trường Ðại học liên quan đến ƯDTH và các công ty (quảng cáo) cùng các nhà hảo tâm.

4.   Thể lệ đăng bài:

  • Các bài báo gửi đăng được viết bằng tiếng Việt (có tóm tắt bằng tiếng Anh) hoặc bằng tiếng Anh (có tóm tắt bằng tiếng Việt).

  • Mỗi bài báo gửi đến Tòa soạn đều được vào sổ ghi nhận ngày, tháng, năm và được Tòa soạn gửi đến ít nhất 2 phản biện.

  • Bài được nhận đăng cần có ít nhất 1 phản biện kín đồng ý và 1 ủy viên HÐ Biên tập giới thiệu. Tổng BT là người duyệt và chịu trách nhiệm cuối cùng.

  • Bài không nhận đăng sẽ có giấy báo của Tòa soạn và không gửi lại bản thảo.

IV.   QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TẠP CHÍ

1.  Hội đồng Biên tập:

  • Thành phần: Gồm các nhà toán học có trình độ, uy tín hoạt động trong các chuyên ngành khác nhau của Toán học ứng dụng và một số chuyên gia có uy tín trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật sử dụng nhiều công cụ toán học.

  • Chủ tịch Hội đồng Biên tập: là Tổng Biên tập Tạp chí.

  • Trách nhiệm các Ủy viên Hội đồng BT: Ðánh giá và giới thiệu các bài gửi đăng hoặc viết bài cho Tạp chí thuộc phạm vi chuyên môn của mình (mỗi năm ít nhất 1 lần); Giám sát Ban thường trực thực hiện quy chế hoạt động của Tạp chí; Tham dự các cuộc họp của Hội đồng Biên tập.

DANH SÁCH HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP QUA CÁC THỜI KỲ

Nhiệm kỳ 2003-2011:

  1. GS.TS. Nguyễn Quý Hỷ (Tổng BT) - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  2. GS.TS. Nguyễn Văn Hữu (Phó TBT) - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  3. GS. TSKH Lê Ngọc Lăng (Phó TBT) - Đại học Mỏ - Địa chất

  4. PGS.TSKH. Phạm Huy Điển (Thường trực BBT) - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG )

  5. PGS.TS. Tống Đình Quỳ (TB Trị sự) - Đại học Bách khoa Hà Nội

  6. GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Thư ký BBT) - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG)

  7. GS. TSKH Nguyễn Hữu Công - Đại học Quốc gia Hà Nội

  8. GS. TSKH Phan Đình Diệu - Đại học Quốc gia Hà Nội

  9. GS. TSKH Nguyễn Văn Đạo - Đại học Quốc gia Hà Nội

  10. PGS. TS Chu Đức - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  11. PGS. TS Nguyễn Văn Hộ - Đại học Bách khoa Hà Nội

  12. GS. TSKH Phạm Thế Long - Học Viện KH & KT Quõn sự

  13. PGS. TSKH Nguyễn Văn Minh - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  14. TSKH. Phạm Trần Nhu - Viện CN Thông tin (TT KHTN & CNQG)

  15. GS.TSKH Trần Văn Nhung - Bộ Giáo dục và Đào tạo

  16. GS. TSKH Hoàng Xuân Phú - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG)

  17. PGS.TS Phạm Ngọc Phúc - Học viện KH & KT Quân sự

  18. GS.TSKH Nguyễn Khoa Sơn - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG)

  19. GS. TSKH Đào Trọng Thi - Đại học Quốc gia Hà Nội

  20. TSKH. Phùng Đình Thực - Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

  21. TS. Đặng Ngọc Tùng - Hội Ứng dụng Toán học Việt Nam

  22. GS. Hoàng Tụy - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG)

  23. GS.TSKH Đỗ Long Vân - Viện Toán học (TT KHTN & CNQG)

Nhiệm kỳ 2012-2017:

  1. GS.TS. Nguyễn Quý Hỷ (Tổng BT) - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  2. PGS.TSKH. Phạm Huy Điển (Phó TBT) - TT Tin Học & Tính Toán (Viện HLKHCN VN)

  3. GS.TS. Nguyễn Văn Hữu (Phó TBT) - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  4. GS.TSKH Hà Huy Khoái (Phó TBT) - Đại học Thăng Long (Hà Nội)

  5. PGS.TS. Tống Đình Quỳ (Phó TBT) - Đại học Bách khoa Hà Nội

  6. GS.TSKH Nguyễn Đông Yên (Thư Ký TS) - Viện Toán học (Viện HL KHCN VN)

  7. GS.TS. Đặng Quang Á - TT Tin Học & Tính Toán (Viện HLKHCN VN)

  8. GS.TSKH Phạm Kỳ Anh - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  9. GS.TS Nguyễn Hữu Dư Viện Toán Cao cấp (Hà Nội)

  10. PGS.TS Bùi Khởi Đàm - Đại học Bách khoa Hà Nội

  11. GS.TSKH Đinh Nho Hào - Viện Toán học (Viện HL KHCN VN)

  12. PGS.TS Nguyễn Đình Hóa - Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội)

  13. PGS.TS Nguyễn Văn Hộ - Đại học Bách khoa Hà Nội

  14. GS.TSKH Phan Quốc Khánh - Đại học Quốc tế (ĐHQG tp. Hồ Chí Minh)

  15. GS.TSKH Lê Ngọc Lăng - Đại học Mỏ - Địa chất

  16. PGS.TSKH Vũ Hoàng Linh - Đại học Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  17. GS.TSKH Phạm Thế Long - Học viện KH & KT Quân sự

  18. GS.TSKH Đinh Thế Lục - TT Tin Học & Tính Toán (Viện HLKHCN VN)

  19. TSKH Pham Trần Nhu - Viện CN Thông tin (Viện HLKHCN VN)

  20. GS.TSKH Trần Văn Nhung - Hội đồng chức danh Nhà nước

  21. PGS.TS Phạm Ngọc Phúc - Học viện KH & KT Quân sự

  22. GS.TSKH Lê Hùng Sơn - Đại học Bách khoa Hà Nội

  23. GS.TSKH Nguyễn Khoa Sơn - Viện Toán học (Viện HLKHCN VN)

  24. GS.TS Trần Vũ Thiệu - Viện Toán học (Viện HLKHCN VN)

  25. TSKH Phùng Đình Thực - Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

  26. PGS. TS Hoàng Quốc Toàn - ĐH Khoa học TN (ĐHQG Hà Nội)

  27. PGS.TS Trần Văn Trản - Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG HN)

  28. GS.TSKH Đỗ Long Vân - Viện Toán học (Viện HL KHCN VN)

2.  Ban thường trực HÐ Biên tập:

  • Thành phần: Tổng Biên tập, các Phó Tổng Biên tập, Thư ký Tòa soạn, Trưởng Ban Trị sự và Kế toán, Thủ quỹ.

  • Trưởng ban Thường trực: Là Tổng Biên tập Tạp chí.

  • Trách nhiệm của Ban thường trực: Lãnh đạo Tạp chí giữa 2 kỳ họp của Hội đồng Biên tập và phân công cá nhân phụ trách từng phần việc sau:

  • Quan hệ với tác giả: nhận và gửi bản thảo kịp thời đến các phản biện kín và người giới thiệu phù hợp chuyên môn, trao đổi với tác giả sửa chữa bản thảo theo góp ý của Phản biện kín và Người giới thiệu để cho Tổng BT duyệt, ra thông báo nhận đăng (nếu được duyệt) hoặc từ chối bài gửi đăng (nếu ngược lại).

  • Duyệt các bản thảo đã được 1 ủy viên Hội đồng BT giới thiệu hoặc trao đổi với Người giới thiệu và Tác giả sửa chữa bản thảo cuối cùng để được nhận đăng.

  • Tổ chức in ấn và phát hành.

  • Tổ chức cuộc họp thường kỳ của Ban Thường trực để tổng kết mỗi số Tạp chí đã xuất bản.

3.  Ban Trị sự:

  • Thành phần: Ðại diện các Cơ quan Trị sự của Tạp chí, Kế toán, Thủ quỹ, Nhân viên trực Văn Phòng Trụ sở Tạp chí, Cộng tác viên hiệu đính in ấn.

  • Trưởng Ban Trị sự:  Là đại diện Hội ƯDTH Việt Nam trong HÐ Biên tập.

  • Nhiệm vụ Ban Trị sự:

  • Ðối nội: Quản lý nhân sự nội bộ, quản lý sổ công văn đi-đến, sổ theo dõi bài gửi đăng và lưu trữ các bản thảo đã được duyệt đăng; quản lý các nguồn kinh phí thường xuyên và hỗ trợ, sổ chi-thu; quản lý dấu và tài khoản của Tạp chí theo đúng những quy định hiện hành.

  • Ðối ngoại: Ðảm bảo mối quan hệ theo quy định giữa Tạp chí và các cơ quan cấp trên (Hội Toán học VN, Vụ Báo chí LHH, Bộ Thông tin và Truyền Thông); Tìm kiếm thêm những nguồn kinh phí thường xuyên và hỗ trợ (như ghi trong Mục III-3), để tạo thêm kinh phí hoạt động cho Tạp chí.

  • Thanh toán thù lao cho các phản biện, người giới thiệu và phụ cấp trách nhiệm của các thành viên Ban Thường trực (theo từng số tạp chí đã xuất bản).

In bài | Chia sẻ   
 
THÔNG BÁO
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Số lượt truy cập: 260134
Đang online: 32